Chào mừng quý vị đến với website của trường Tiểu học số 1 Đồng Sơn
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
CÁCH XÁC ĐỊNH LỖI VÀ CHỮA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH kHỐI 5 BẬC TIỂU HỌC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:Bảo vệ sự trong sáng cuả tiếng Việt có thể nói là một công việc lớn. Công việc ấy đặt ra cho cả cấp học, cho mọi người dân Việt Nam. Đối với người đang trực tiếp học tập và sử dụng ngôn ngữ như học sinh thì nhiệm vụ ấy được đặt ở vị trí cao.Thực trạng hiện nay, học sinh tiểu học đang mắc phải khá nhiều lỗi về tiếng Việt, lỗi trong phạm vi chính tả, từ, câu… Trước yêu cầu và thực trạng của vấn đề, tôi thấy việc tìm hiểu các lỗi tiếng Việt trong học sinh tiểu học để có biện pháp khắc phục là một công việc lí thú và cần thiết.Thuật ngữ “chính tả” hiểu theo nghĩa gốc là “phương pháp viết đúng” hoặc lối viết hợp chuẩn. Cụ thể, chính tả là một hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tiếng nước ngoài… Ở bậc tiểu học, phân môn chính tả có vị trí rất quan trọng. Bởi vì giai đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh. Phân môn chính tả ở trường tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả. Ngoài ra, phân môn này còn rèn cho học sinh các phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt.Từ những lí do chủ quan và khách quan dã nêu trên thôi thúc tôi chọn và thực hiện đề tài “Xác định lỗi và chữa lỗi chính tả cho học sinh khối 5 bậc tiểu học”.
2. Nhiệm vụ của đề tài: Đề tài tập trung vào các vấn đề sau:- Một số cơ sở lí luận.- Thực tiễn và thực trạng của học sinh đối với việc viết chính tả ở bậc tiểu học.
3. Phạm vi của đề tài:- Đề tài tập trung trình bày một số kinh nghiệm xác định lỗi và chữa lỗi cho học sinh có hiệu quả.
4. Phương pháp nghiên cứu:a. Phương pháp khảo sát mô tả.b. Phương pháp phân tích tổng hợp.c. Phương pháp so sánh diễn dịch.
5. Đối tượng nghiên cứu: - Các bài chính tả của học sinh lớp 5 trường tiểu học số 1 Đồng Sơn. - Một số bài tập chính tả.
PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
+ Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Việc chuẩn hóa tiếng Việt trong nhà trường là một yêu cầu đúng đắn, mang đầy đủ tính lý luận cũng như thực tiễn, tính cấp thiết trước mắt cũng như tính lâu dài. Bởi lẽ, tiếng Việt được chia làm 3 phương ngữ chính:+ Phương ngữ Nam Bộ.
+ Phương ngữ Trung Bộ.
+ Phương ngữ Bắc Bộ.- Chuẩn hóa tiếng Việt nhằm khắc phục lỗi, phân biệt phương ngữ trên chữ viết và hạn chế phân biệt trên cách phát âm.
* Qua thực tế giảng dạy ở lớp 5 với đặc điểm của các bài chính tả của học sinh lớp 5, số lượng chữ viết của bài viết tăng lên với tốc độ quy định viết cũng tăng dần. Đầu kì I: 95 chữ/ 15 phút, giữa kì 100 chữ/ 15 phút, kỳ II: 105 chữ/ 15 phút, cuối kỳ II: 110 chữ/ 15 phút.
* Qua thống kê lỗi chính tả của học sinh lớp 5, chủ yếu các em mắc phải những lỗi sau:
- Lỗi trong phạm vi chính tả: Các em không thể phân biệt rõ dấu hỏi, dấu ngã, không phân biệt được phụ âm d - gi trong nhiều trường hợp, lỗi âm cuối n - ng, t - c, lỗi âm đệm u - ô, lỗi âm chính o - ô, a - ê. Những lỗi này hoàn toàn sửa được, bởi tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất. Mặt khác là đối tượng trung tâm của trường học, học sinh được quan tâm giúp đỡ của thầy giáo, cô giáo, gia đình và toàn xã hội.
- Mặt thứ hai của cơ sở khoa học để giúp người viết thực hiện đề tài này là kiến thức tiếng Việt phổ thông. Trên cơ sở lấy phương ngữ Bắc Bộ làm chuẩn trong đó Hà Nội làm trung tâm. Bộ Giáo dục và đào tạo, viện ngôn ngữ học đã phổ biến rộng rãi kiến thức chuẩn về ngữ pháp tiếng Việt dưới nhiều hình thức khác nhau và đã cập nhật với nhiều chương trình đào tạo. Bản thân tôi cũng đã được cung cấp một số kiến thức tiếng Việt và nhận thấy rằng: Vận dụng kiến thức ấy vào thực tiễn cuộc sống có một ý nghĩa quan trọng đối với bản thân cũng như xã hội. Cho nên những kiến thức tiếng Việt là cơ sở vững chắc góp phần thực hiện đề tài này.
CHƯƠNG II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀI. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI:
1. Mục đích:- Phát hiện những lỗi chính tả của khối lớp 5.- Đề tài nhằm phục vụ cho học sinh và nghiên cứu giảng dạy.- Đề tài góp phần bổ sung vào quá trình chuẩn hóa tiếng Việt trong nhà trường.
2.Yêu cầu:2.1. Yêu cầu trong khi thực hiện đề tài:- Phát hiện đúng, chính xác lỗi của học sinh đã thành quy luật và mang tính đặc trưng nhất. - Tham khảo ý kiến đồng nghiệp và tài liệu.2.2. Yêu cầu sau khi hoàn thành:- Tìm ra quy luật về lỗi chính tả đã có.- Đề ra được phương pháp khắc phục thích hợp.
II. LỖI TRONG PHẠM VI CHÍNH TẢ:
1. Lỗi về thanh hỏi, thanh ngã.
- Lỗi viết không đúng dấu hỏi, dấu ngã là một trong những loại phổ biến nhất của học sinh miền Trung . Trong đó phần lớn là học sinh tiểu học mắc phải. Bởi lẽ, tiếng Việt là tiếng tượng thanh ghi lại âm thanh phát ngôn. Trong khi người miền Trung (hay phương ngữ miền Trung) không phân biệt rõ thanh hỏi, thanh ngã, do đó đa số học sinh phạm lỗi này. “ Mặt khác ở phương diện khách quan, hai loại dấu thanh này thường xuyên xuất hiện trên các dòng chữ cho nên nó làm cho người viết có thể phạm sai lỗi dấu hỏi, dấu ngã bất kỳ khi nào”.( Muốn viết đúng dấu hỏi, dấu ngã của Võ Xuân Trang. NXBsở VHTT TP Hồ Chí Minh).Riêng đối với học sinh khối 5 trường tiểu học số 1 Đồng Sơn lỗi này thường xuất hiện trong tất cả các em. Tôi khảo trên hai phương diện: khảo sát văn bản, và khảo sát trắc nghiệm. Thông qua khảo sát văn bản chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của giáo sư: Phan Ngọc trong cuốn” Sửa lỗi chính tả cho học sinh” là bất kỳ văn bản nào những từ sau đây thường suất hiện nhiều: chỗ, cũng, đã( đã rồi), giữa, giữ, lẽ ( lẽ phải ), mãi ( mãi mãi), nỗi ( nỗi niềm), nữa ( còn nữa), những, sẽ ( sẽ làm ), vẫn ( vẫn thế) 12 từ này luôn mang dấu ngã, học sinh chỉ cần học thuộc thì đã giải quyết được 50% lỗi hỏi - ngã.
2. Lỗi về phụ âm đầu:Đặc điểm quan trọng đến khó phân biệt hai phụ âm đầu này trên chữ viết chính tả là nó khó phân biệt rõ ràng trong cách phát âm, Học sinh thường viết nhầm các từ sau:
| Từ đúng | Biến thành | Từ đúng | Biến thành |
| Dành dụm | Giành dụm | Giữ lại | Dữ lại |
| Dải áo | Giải áo | Tài giỏi | Tài dỏi |
| Lý giải | Lý dải | Giận dữ | Dận dữ |
| Tác giả | Tác dả | Giả sử | Dả sử |
| Dã man | Giã man | Dãi dầu | Giãi dầu |
Ngoài những lỗi kể trên học sinh còn nhầm lẫn giữa nh-d.
3. Lỗi về âm cuối:
4. Lỗi về âm chính:
5. Lỗi về âm đệm:
CHƯƠNG III: NGUYÊN NHÂN – BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
I. NGUYÊN NHÂN:- Học sinh sở dĩ phạm lỗi này là do ba nguyên nhân sau:
1. Loại lỗi sai do không nhớ, không thuộc mặt chữ do không đánh vần hay vần sai.
2. Loại lỗi sai do không nắm được quy tắc.3. Loại lỗi viết sai do ảnh hưởng của phương ngữ.
II. PHƯƠNG PHÁP KHẮC PHỤC:
1. Đối với việc phân biệt thanh hỏi - thanh ngã có hai cách để khắc phục.Thứ nhất học thuộc lòng, thứ hai là nắm mẹo luật.
1.1. Học thuộc lòng:- Trong tiếng Việt từ có dấu hỏi nhiều hơn từ có dấu ngã, do đó cách học thông minh nhất là nhớ những trường hợp viết dấu ngã còn lại là viết dấu hỏi. Ngoài 12 trường hợp đã giới thiệu ở phần trước, tôi giới thiệu thêm một số trường hợp khác có tần suất khá cao, theo giáo sư: Phan Ngọc” chỉ cần học thuộc học sinh đã hạn chế được gần 90% lỗi viết sai dấu hỏi, dấu ngã” Cãi ( cọ ), Chỗ, cỗ ( mâm ) cỡ, cũ ( mới ), cũng ( vậy ), bão, bãi ( bờ ), đã, dũng, dữ, đã( rồi ), nữa ( thêm ), rõ, sẽ ( làm ), sĩ, hãy, hễ, hỗn( hợp ), hữu, ky õ( càng ) kỹ ( thuật ), lũy, lãnh ( lãnh đạo), lão, lẽ ( ly ù), lỗ ( lời ), lũ( lụt ), lũ( lượt ) trĩu, vẫn ( còn ), vẽ( vời ), vĩ, võng, vỡ ( tan ), lũng, lưỡi, lưỡng, mãi, mãnh ( liệt ), mẫu, mỗi, mỡ( màng), mũ, mũi, ngã( ngữa ), nghĩ ( ngợi ), ngõ ( ngách ), ngũ ( cốc ) nhã, những, nỗi ( niềm ), vũ, vũng, xã, rã ( rời ).
1.2. Dùng mẹo luật:Từ tài liệu của Lê Ngọc Trụ và Võ Xuân Trang tôi cung cấp 3 mẹo luật:+ Luật thứ nhất: “Luật huyền ngã nặng hỏi sắc không”+ Luật thứ hai:” Mình nên nhớ viết liền dấu ngã”Gặp một từ Hán Việt không biết viết dấu hỏi hay dấu ngã ta viết dấu ngã nếu từ ấy có một trong những phụ âm dầu là:m,n,nh,v,l,d,ng,ngh.
Ví dụ: M: mãn khóa, mẫu số; NH: nhã nhặn, nhẫn nại…; N: truy nã, nỗ lực…;V: vũ lực, viễn thông; L: lãnh đạo, lãng mạn; D: dĩ nhiên, dã man..; Ng- ngh: ngôn ngữ, nghĩa quân, ngưỡng mộ…Trường hợp ngoại lệ: thực tiễn, xã hội, mâu thuẫn, hỗ trợ, kỹ năng...+ Luật thứ ba: “lãi - lời - lợi, tản - tán – tan”Luật này áp dụng cho cả từ thuần Việt lẫn từ Hán Việt.Gặp một từ không biết viết dấu hỏi hay dấu ngã ta viết dấu ngã nếu từ đó đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với một từ khác có dấu huyền hoặc dấu nặng.Ví dụ: cùng - cũng, còi - cõi, chìa - chĩa, ngờ - ngỡ, mợ - mỡ.Gặp một từ không biết viết dấu hỏi hay dấu ngã, ta viết dấu hỏi nếu từ ấy đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với một từ khác có dấu sắc hoặc không dấu.Ví dụ: bảo - báo, chẳng - chăng, chửa - chưa.
2- Đối với việc phân biệt D và GI+ Luật “Giao tranh cho tôi cầm”.Gặp một từ không biết viết D hay Gi ta viết Gi nếu từ ấy có nghĩa với một từ khác có mang phụ âm đầu là Tr, ch hay C/K. Ví dụ: Gi và Tr giành - tranh, giao - trao Gi và T giặc - tặc, giọng - tiếng Gi và Ch giấu - che, giấy - chỉ… Gi và C/K giăng - căng, giỗ - kị…+ Luật “Dặn đến nhà thương”.Gặp một từ không biết viết D hay Gi ta viết D nếu từ ấy có nghĩa gần giống với nghĩa của một từ khác có phụ âm đầu là một trong ba trường hợp D - NH - TH . Ví dụ: D - Đ: dao - đao, da - đa, dĩa - đĩa… D - NH: dồi - nhồi, díp - nhíp… D - TH: dư - thừa, dược - thuốc…
III. VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN, HỌC SINH ĐỐI VỚI SỬA LỖI.
1.Đối với giáo viên cần phải có:- Kiến thức về tiếng Việt.- Trách nhiệm và vai trò của mình trong nhà trường và trách nhiệm trước nghềâ nghiệp. Từ đó giáo viên thiết kế chương trình hành động sao cho phù hợp với học sinh để có hiệu quả cao.- Trong mối quan hệ giữa người thiết kế với người thi công, người thiết kế đóng vai trò quan trọng.
2. Đối với học sinh:- Phải tích cực tự giác trong việc tìm lỗi của mình và sửa chữa. Người học chính là đối tượng quyết định sự thành bại của bản thiết kế.- Khi người học người dạy kết hợp với nhau một cách tâm đắc thì sẽ hoàn thành nhiệm vụ đặt ra.
PHẦN III: KẾT LUẬNKiểm định giả thuyếtVới sự nổ lực của bản thân, sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, tôi đã thực hiện đề tài nhằm chứng minh cho giả thuyết khoa học mà mình đặt ra.Số lỗi chưa phát hiện được nhiều, cách chữa lỗi một số câu còn mang tính chủ quan song kết quả bước đầu của đề tài có giá trị thực tiễn trong giảng dạy của tôi.Trong năm học này nhờ sự rèn luyện theo quy mô trên. Lớp tôi đã đạt chuẩn về chữ viết khá cao ( 96,3% ).Mặc dù tôi đã rất cố gắng nhưng những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu là không thể tránh khỏi, tôi tha thiết mong sự bổ sung những ý kiến quý báu của đồng nghiệp và của các đồng chí để đề tài được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Người thực hiện
Trần Thị Lệ Hằng
Hồ Thị Xuân Phượng @ 09:29 27/10/2010
Số lượt xem: 1560
- GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HIỆN NAY (15/10/10)
- NHỮNG GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHỈ ĐẠO VIỆC THỰC HIỆNĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA Ở TIỂU HỌC CỦATRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 ĐỒNG SƠN (11/10/10)
- MỘT SỐ BIỆN PHÁP, KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 3 (01/10/10)
- GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TẬP LÀM VĂN (28/09/10)
- RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 (22/09/10)
Các ý kiến mới nhất